Giới thiệu
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Đặc điểm của văn bản nghị luận.
Văn nghị luận bao giờ cũng nhằm mục đích hướng tới giải quyết một vấn đề cụ thể mà thực tế cuộc sống đặt ra, đồng thời cũng là xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, tình cảm, quan điểm nào đó, chẳng hạn như lòng yêu nước; tình đoàn kết, tương thân, tương ái; đức tính kiên trì, nhẫn nại; ý thức về lẽ sống, về đạo lí, về cách cư xử trong cuộc sống...Vì hướng tới mục đích sấy, mỗi văn bản nghị luận bao giờ cũng phải có
luận điểm, luận cứ và lập luận.
A.LUẬN ĐIỂM.
1.Khái niệm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài nghị luận.Về hình thức, luận điểm thường nêu khái quát bằng một câu văn ở dạng khẳng định( hay phủ định); có cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn; được diễn tả rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán.Câu văn này có thể đặt ở đầu đoạn văn hoặc cuối đoạn văn. Về ý nghĩa, luận điểm là linh hồn của bài văn, đóng vai trò liên kết, thống nhất các đoạn văn thành một khối. Trong thực tế một luận điểm có thể được triển khai trong một đoạn văn hoặc nhiều đoạn văn.
Muốn bài văn có sức thuyết phục, luận điểm được nêu phải đảm bảo tính chân thực, đúng đắn, đáp ứng nhu cầu thực tế. Việc xác định hệ thống luận điểm có tính chất quan trọng đối với quá trình thể hiện chủ đề văn bản . Vì vậy luận điểm không nên quá chung chung, hay quá chi tiết, vụn vặt.Làm thế nào để thông qua hệ thống luận điểm, người đọc, người nghe có thể nắm bắt được ý đồ của người tạo lập văn bản.
2.Trình bày luận điểm
1.Trình bày luận điểm chính là lập luận, là cách trình bày lí lẽ, trình bày luận chứng. Có nhiều cách trình bày luận điểm.
a.Trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch. Luận điểm chính là câu chủ đề, đứng đầu đoạn văn.
VD: “ Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. Nói thế có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt là một thứ tiếng hài hoà về mặt âm hưởng, thanh điệu, mà cũng rất tế nhị uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế cũng có nghĩa là nói rằng: Tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư tưởng của người Việt Namvà để thoả mãn cho nhu cầu đời sống văn hoánước nhà qua các thời kì lịch sử”.
( “Sự giàu đẹp của Tiếng Việt”- Đặng Thai Mai)
“Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa”
( “ Gửi đồng bào Nam Bộ”-Hồ Chí Minh)
“Phải biết hỏi trong khi học thì mới tích cực và sâu sắc .Hỏi để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung đang học, để đi tới cùng chân lí. Kiến thức về xã hội, nhân văn, về tự nhiên về khoa học kĩ thuật là vô cùng rộng lớn, bao la. nhờ biết hỏi mà ta vươn lên không ngừng,mở rộng tầm mắt, tích luỹ được nhiều tri thức mới mẻ. Không thể học một cách thụ động, chỉ biết thầy đọc, trò chép, mà phải biết hỏi, đào sâu suy nghĩ về mọi ngóc ngách của mọi vấn đề đang học. Học đâu chỉ giới hạn ở trường, ở lớp, trong mấy quyển sách giáo khoa? Hỏi để học ở thầy, ở bạn, ở trong cuộc sống. Biết hỏi mới tiến bộ, tránh giấu dốt!”.
( “ Học và hỏi”-Lê Phan Quỳnh)
b.Trình bày luận điểm theo phương pháp quy nạp-Luận điểm là câu chủ đề đặt ở cuối đoạn văn:
VD:
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
( “Tuyên ngôn độc lập” –Hồ Chí Minh)
ở Việt Nam ta có câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” Trung Quốc cũng có câu tục ngữ “ Dân dĩ cực vi thiên”. Hai câu ấy tuy đơn giản nhưng rất đúng lẽ.
Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn ( rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác ).Muốn giải quyết vấn đề ăn thì phải làm thế nào có đầy đủ lương thực. Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kì quan trọng”
( Hồ Chí Minh – Tháng 4 năm 1962)
c.Các luận điểm, luận cứ trong một bài văn nghị luận phải được trình bày theo một trật tự, trình tự hợp lí; liên kết với nhau, hô ứng nhau một cách chặt chẽ.
Cách diến đạt cần trong sáng, mạch lạc. Câu văn cần ngắn gọn, tránh dài dòng lê thê. Giọng văn là điều quan tâm đặc biệt. Hoa hoè, hoa sói, nguỵ biện, suy diễnmột chiều, công thức cứng nhắc ....sẽ làm cho bài nghị luận nhạt nhẽo. Hiện tượng nói nhiều , nóidai, nói nhảm, nói trống rỗng....ta luôn bắt gặp đó đây. Tính thuyết phục của văn nghị luận cần ghi nhớ và coi trọng.
VD. “Về kinh tế , chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta nhất là dân cày và dân buôn trở lên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột dân ta vô cùng tàn nhẫn”
( “Tuyên ngôn độc lập”- Hồ Chí Minh)
Tội ác lớn về kinh tế của thực dân Pháp đối với đất nước ta trong suốt 80 năm trời là luận điểm mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên.
luận điểm này được trình bày bằng 5 luận cứ ( Mỗi tội ác là một luận cứ) theo một hệ thống, một trật tự rất chặt chẽ. Lí lẽ đanh thép, giọng văn hùng hồn, gây ấn tương mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục.
VD:
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnhvà thịnh;nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy. Vậy nên các đấng thánh đế, minh vương không ai không coi trọng việc bồi dưỡng nhân tài, tin dùng kẻ sĩ, vun đắp nguyên khí à việc làm trước tiên....”
( Trích “ Bia Tiến sĩ”-Văn miếu Thăng Long)
“Khi sống sung túc, phẩm hạnh lớn nhất là sự điều độ, còn khi gặp tai hoạ, phẩm hạnh lớn nhất là sự kiên cường.
Có ba điều đạt tới hạnh phúc : Thân xác khoẻ mạnh, tinh thần thoải mái, và trái tim trong sạch”..
(Đô –mát)
2.Viết đoạn văn trình bày luận điểm theo phương pháp diễn dịch hoặc quy nạp
B.LUẬN CỨ: Là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm. Một luận điểm có thể có một hoặc nhiều luận cứ.
-Lí lẽ phải đầy đủ, chặt chẽ, có tình, có lí.
-Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, chính xác hoặc lấy từ thực tế(Nếu vấn đề được nghị luận thuộc vắn đề chính trị- xã hội), hoặc lấy từ các tác phẩm văn học(nếu vấn đề được nghị luận thuộc lĩnh vực văn học).
C.LẬP LUẬN.
Văn nghị luận không cần phải có ý mà cần phải có lí .Sự kết hợp chặt chẽ giữa ý và lí là đặc trưng nổi bật của văn nghị luận nhằm tạo nên sức thuyết phục. Muốn đảm bảo sự kết hợp giữa ý và lí thì cần thiết phải lập luận tốt.
1.khái niệm.
lập luận là cách lựa chon, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho luận cứ trở thành những căn cứ chắc chắn để làm rõ luận điểm, hướng người nghe đếnh kết luận hay quan điểm mà người viết, người nói muốn đạt tới.Lập luận càng chặt chẽ, hợp lí thì sức thuyết phục của văn bản càng cao.
Muốn lập luận, người viết phải thực hiện các bước sau:
-Xác định kết luận cho lập luận: Có thể là luận đề hoặc luận điểm.
-Xây dựng luận cứ cho lâp luận: Tức là tìm các lí lẽ và đưa ra các dẫn chứng (dẫn chứng thực tế, các con số thống kê;lí lẽ gồm các nguyên lí, chân lí, ý kiến được công nhận...)
-.>để lập luận có sức thuyết phục, cần chú sử dụng các phương tiện liên kết lập luận (Gồm các từ ngữ có ý nghĩa chuyển tiếp)
2.Bố cục trong bài văn nghị luận.
Trong khuôn khổ của một bài văn nghị luận, bố cục thường chính là dàn ý của bài. đây là khâu quan trọng trong quá trình tạo lạp văn bản. Đot-tôi-ép-xki, nhà văn Nga nổi tiiếng thế kỉ XI X đã nói: “Nếu tìm được một bố cục thoả đáng thì công việc sẽ trôi chảy như trượt trên băng”
Đối với văn nghị luận , việc xác định bố cục đóng một vai trò quuan trọng. Vấn đề nghị luận càng phang phú, phức tạp thì càng cần phẩi có một bố cục chi tiết, giúp cho người viết hình dung được trên những nết lớn các phần, các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ, trọng tâm của bài viết; đồng thời chủ động phân phối thời gian, phân lượng và thoả đáng giữa các phần, các ý.
Bố cục trong bài văn nghị luận cũng giống như bố cục phổ biến của một văn bản nopí chung, nghĩa là gồm có ba phần lớn: Mở bài, thân bài và kết bài. Có thể hình dung một cách khái quát như sau:
a, Mở bài:nêu luận điểm tổng quát của bài viết.
Cấu tạo của phần mở bài ở dạng đầy đủ thường gồm có những bộ phận nhỏ sauđây:
-Lời dẫn vào đề (nêu xuất sứ của đề, xuất xứ một ý kiến, một nhận định hoặc dẫn nguyên văn đoạn trích tác phẩm
-Nêu vấn đề (Đây là phần trọng tâm, xác điịnh rõ vấn đề nghị luận và yêu cầu cần giải quyết)
-Giới hạn vấn đề (Xác định phương hướng, phạm vi, mức độ, giưới hạn của vấn đề cần giải quyết)
-Có nhiều cách mở bài: Mở bằng cách khẳng định, mở bằng cách nêu câu hỏi, mở bằng cách phân tích....
b,Thân bài:Có nhiệm vụ triển khai hệ thống ý lớn, ý nhỏ để làm sáng tỏ luận điểm.
Cấu tạo thường gặp ở phần thân bài trong văn nghị luận là:
Luận điểm 1: Luận cứ 1- Luận cứ 2.........
Luận điểm 2:Luận cứ 1, luận cứ 2....
Luận điểm 3: Luận cứ 1, luận cứ 2..
việc sắp xếp các luận điểm hoàn toàn tuỳ htuộc vào loại vấn đề được trình bày vào loại văn bản, vào đối tượng mà văn bản hướngd tới,hoặc có trường hợp lại phụ thuộc vào thói quen và sở trường của người viết. Tựu trung lại, có thể nêu một số cách trình bày chính sau đây:
-Trình bày theo trình tự thời gian:Phương thức này khá đơn giản mà thông dụng, nhất là đối với kiểu nghị luận chứng minh. Sự kiện nào sảy ra trước trình bày trước, sự kiện nào sảy ra sqau trình bày sau (Bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là một ví dụ)
-Trình bày theo quan hệ chỉnh thể- bộ phận: Phương thức này có thể trình bày cho kiểu nghị luận chứng minh, nghị luận phân tích,,,..Theo phương thức này, người viết sẽ sắp xếp các ý theo tầng bậc, từ chỉnh thể đến các yếu tố tạo nên chỉnh thể ấy.
VD: Nghị luận về văn học dân gian Việt Nam, ta có thể xuất phát từ những đánh giá, nhận định chung ( chỉnh thể) trên cở sở lần lượt đi vào các thể loại (Bộ phận): Truyện kể dân gian- thơ ca dân gian- sân khấu dân gian...
-Trình bày theo quan hệ nhân quả: Phương thức này có thể dùng cho kiểu nghị luận giải thích, có tác dụng tạo nên tính chặt chẽ cho bố cục và tăng thêm sức thuyết phục cho bài viết.
Ngoài ra có thể trình bày theo quan hệ tương đồng hoặc tương phản; trình bày theo sự đánh giá chủ quan của người viết.
c,Kết bài: Có nhiệm vụ tổng kết và nêu hướngmở rộng luận điểm, tức là vừa tóm lược, vừa nhấn mạnh một số ý cơ bản của phần triể khai, đồng thời có sthể nêu nên những nhận định, bình luận nhằm gợi cho người đọc tiếp tục suy nghĩ về vấn đề được bàn bạc trong bài.
3.Phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận
a,Phương pháp suy luận nhân quả: Là phương pháp lập luận theo hướng ý trước nêu nguyên nhân, ý sau nêu hệ quả. Các trường hợp được sắp xếp liền kề theo trình tự nhân trước, quả sau.Tuy nhiên trong thực tế, trình tự ấy có thể thay đổi:hệ quả nêu trước, nguyên nhân nêu sau(nhằm lí giải vấn đề) .
b,Phương pháp suy luận –tổng- phân –hợp : Là phương pháp lập luận ntheo quy trình đi từ khái quát đến cụ thể, sau đó tổng hợp lại vấn đề.
c,Phương pháp suy luận tương đồng: Là phương pháp suy luận trên cơ sở tìm ra những nét tương đồng nào đó giữa các sự vật, sự việc, hiện tượng.cẳng hạn như suy luận tương đồng theo dòng thời gian, suy luận tương đồng trên trục không gian....
d,Phương pháp suy luận tương phản: Là phương pháp suy luận dựa trên cơ sở tìm ra những nét trái ngược nhau gữa các đối tượng, ssự vật, sự việc, hiện tượng (So sánh tương phản bằng cách dùng cặp từ trái nghĩa, hoặc dùng các hình ảnh, các cụm từ có ý nghĩa trái ngược nhau)
Lê Văn Hùng @ 09:22 26/02/2017
Số lượt xem: 310
- Vì sao phải dùng văn nghị luận (26/02/17)
- Tác dụng của việc đọc sách (07/09/14)